Polyethylene tỷ trọng thấp (LDPE): là loại PE thông dụng nhất.

Hạt nhựa LDPE được tổng hợp như cách mà một polymer phân nhánh cao được hình thành.

Nó bao gồm nhánh mạch ngắn (dài ít hơn sáu nguyên tử carbon) và nhánh chuỗi dài (gần bằng chiều dài của mạch chính).

Nhánh trong chuỗi làm gián đoạn trình tự của polymer và ngăn chặn kết tinh cục bộ.

Kết tinh ít hơn ở mật độ thấp hơn.

Hạt nhựa LDPE được tổng hợp bằng phương pháp gốc tự do ở áp suất cao.

Có hai loại lò phản ứng chính là lò phản ứng nồi hấp hoặc lò phản ứng hình ống.

Lò phản ứng nồi hấp có xu hướng cung cấp nhiều nhánh làm tăng độ đa phân tán.

LDPE có phạm vi nóng chảy rộng, với nhiệt độ nóng chảy cao nhất ở 110°C.

Tỷ trọng LDPE thường trong khoảng 0.91 ÷ 0.93 g/cm3.

LDPE có đặc tính lưu biến học nên phù hợp để sản xuất màng bằng phương pháp thổi màng nên xử lý nó tương đối dễ dàng.

So với các loại PE khác, nó nóng chảy ở nhiệt độ tương đối thấp (220 ÷ 240°F, 105 ÷ 115°C).

Độ bền chảy, độ nhớt trượt thấp và tính chất trượt dính mỏng của LDPE làm tăng khả năng gia công mà không làm tiêu tốn nhiều năng lượng cho máy đùn.

Loại LDPE dùng để thổi màng có độ nhớt vừa phải, nhưng nhiều nhánh nên cần một cửa xử lý tương đối rộng và độ bền nhiệt cao trong bong bóng.

Điều này dẫn tới bong bóng ổn định mà có thể làm việc với chiều cao đường làm nguội thấp

LDPE rất dễ hàn nhiệt, mềm, dai và giá thành rẻ nhất.

Các loại LDPE có hệ số trượt khác nhau sẽ có những ứng dụng khác nhau trong bao bì

Sản phầm cần đóng gói sản phẩm có số lượng lớn thì cần hệ số trượt thấp để có khả năng xếp động tốt.

Đóng gói sản phẩm mềm trong bao bì dạng túi thì cần hệ số trượt cao. LDPE được sử dụng nhiều nhất để tạo màng mỏng để làm túi.

Hiển thị một kết quả duy nhất